Các phương pháp xử lý dầu tràn

Dầu tràn trên biển, gây ảnh hưởng đến khu vực sống của cá, làm suy giảm lượng cá, giết các loài động vật như chim biển, hải cẩu hay rái cá.

Ngoài ra các loại quý hiếm như rùa biển, lợn biển cũng bị đe dọa. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc dầu bị tràn trên biển, đầu tiên phải kể đến việc tàu chở dầu gặp sự cố hoặc do cố ý súc xả dầu trái phép, rò rỉ ống dẫn dầu, bể chứa dầu trong lòng biển, do thăm dò khai thác túi dầu bị rách do địa chấn hoặc cũng có thể là do các nhà máy xí nghiệp tiêu thụ một lượng dầu rất lớn sau đó xả thải ra biển mà không qua hệ thống xử lý dầu mỡ.

Các dạng ô nhiễm do tràn dầu.

a. Tràn dầu trên mặt nước (dạng lỏng) : thường xảy ra ở sông, biển do các con tàu chở dầu gặp sự cố hay vỡ đường ống dẫn dầu từ biển vào đất liền. Ngoài ra trong quá trình khai thác các túi dầu ngoài biên khơi bị vỡ và tràn ra ngoài mặt biển.

b. Tràn dầu trong lòng đất (dạng lỏng và rắn): do dầu các túi dầu trong lòng đất bị vỡ tràn ra ngoài hay các vật dụng chứa dầu bị thủng dẫn đến dầu tràn ra và thấm vào trong lòng đất.

c. Tràn dầu trên mặt đất: do dầu bị tràn ra mà không thấm được vào lòng đất, chịu nhiều tác động của các yếu tố tự nhiên nên dầu có thể bị đóng cục lại (dạng rắn).

Các phương pháp xử lý dầu tràn.

a. Phương pháp vật lý: khi có sự cố tràn dầu xảy ra thì phải có các biện pháp để hạn chế thấp nhất các ảnh hưởng xấu đến môi trường .Thu hồi dầu trên mặt nước bằng các phao quay nổi (boom) và thiết bị hút dầu (skimmers), thu hồi dầu trên bờ bằng các thiết bị xúc bốc vật liệu bị nhiễm dầu hoặc sử dụng các vật liệu thấm dầu.Dùng các loại phao quây khoanh vùng không để dầu tràn ra xa, hút và tái chế.

Các biện pháp thu gom:

– Khoanh vùng ô nhiểm và huy động phương tiện, công nhân môi trường và người dân trong vùng để thu gom.

-Sử dụng tàu, hoặc ca nô kéo lưới bao dầu để thu gom các vệt dầu lớn. -Làm sạch khu vực bị nhiễm dầu bằng cách xịt hoặc phun nước (có thể bằng thủ công hoặc bằng phương tiện như trực thăng….)

– Đốt dầu tràn trên các bãi biển.

b. Xử lý dầu tràn bằng phương pháp hóa học: phân tán dầu trên biển bằng các chất học (chất phân tán, chất hoạt động bề mặt, các chất keo tụ…), đốt tại chỗ hoặc chuyển đến vị trí khác để xử lý. Sử dụng các hóa chất làm kết tủa hoặc trung hòa dầu tràn, thường thực hiện băng các phương tiện như trực thăng và trên phạm vi rộng lớn.

c. Xử lý dầu tràn bằng phương pháp sinh học: sử dụng các chế phẩm vi sinh kích quá trình sinh trưởng và phát triển của một số loài vi sinh vật phân hủy dầu, nguồn hydrocacbon của dầu sẽ được sử dụng làm nguồn cacbon duy nhất, hoặc những sản phẩm phân hủy hydrocarbon của vi sinh là nguồn cơ chất để sinh trưởng cho những vi sinh vật khác. Phương pháp sinh học là phương pháp xử lý dầu tràn có hiệu quả và an toàn cho môi trường nhất hiện nay, được sử dụng kế tiếp ngay sau khi các biện pháp ứng cứu nhanh. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của một số loài vi sinh vật, nguồn hydrocacbon của dầu có thể được sử dụng làm nguồn cacbon duy nhất, hoặc những sản phẩm phân hủy hydrocarbon của vi sinh này lại là nguồn cơ chất để sinh trưởng cho những vi sinh vật khác. Hydrocacbon được oxy hóa, bẻ mạch và sản phẩm sau cùng là các chất đơn giản: các axit hữu cơ, CO2, nước và sinh khối vi sinh vật các sản phẩm này không gây ô nhiễm cho môi trường. Khi nguồn hydrocarbon đã tiêu thụ hết thì sinh khối vi sinh vật cũng tự bị phân rã theo chu trình sinh hóa và số lượng vi sinh vật lại trở về như trong điều kiện ban đầu.

Có hai phương pháp sinh học phổ biến:

– Kích hoạt vi sinh vật (biostimulation): là bổ sung chế phẩm sinh học ( vi sinh xử lý nước thải ) có chứa chất dinh dưỡng cần thiết: nitơ (NH4NO3), phốt pho (K2HPO4, KH2PO4), các khoáng chất… cho hệ vi sinh vật bản địa có khả năng phân hủy dầu. Vi sinh vật cần nguồn dinh dưỡng cacbon, nitơ, phốt pho hợp lý để sinh trưởng và phát triển. Ngoài chất dinh dưỡng còn bổ sung thêm chất hoạt động bề mặt sinh học để tăng diện tích tiếp xúc giữa dầu và vi sinh vật, giúp cho chúng tiếp cận nguồn dinh dưỡng nhanh hơn. Phương pháp kích hoạt vi sinh được ứng dụng nhiều nhất hiện nay vì tính kinh tế: chi phí đầu tư thấp và thân thiện với môi trường.

– Khác với phương pháp xử lý ô nhiễm sinh học bằng kích hoạt vi sinh vật, phương pháp Bổ sung vi sinh vật (bioaugmentation): là bổ sung chế phẩm sinh học có chứa vi sinh vật phân hủy dầu vào môi trường bị ô nhiễm. Phương pháp này khá phức tạp, chi phí xử lý cao vì phải sản xuất chủng vi sinh vật phân hủy dầu ở quy mô phòng thí nghiệm và không chắc rằng ra ngoài môi trường chúng có thể cạnh tranh được với các chủng có sẳn trong môi trường đó để sinh trưởng và phát triển.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *